Độ nhớt của máu là gì? Độ nhớt của máu là một trong các chỉ số được dùng để đánh giá các biểu hiện của bệnh huyết khối có thể cũng thường được xét nghiệm kiểm duyệt. Qua nội dung sau đây sẽ cung cấp thêm nhiều thông tin hơn đến bạn đọc, cùng tham khảo nhé.
Độ nhớt của máu là gì?

Máu là dạng mô lỏng có trọng lượng lớn không ngờ (chiếm từ 7 – 10% tổng trọng lượng cơ thể) và được tuần hoàn liên tục từ tim đến các mô, cơ quan trên khắp cơ thể. Máu có màu đỏ do hồng cầu, vị mặn và ở dạng lỏng nhớt. Cụ thể thành phần của máu gồm các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và dịch ngoại bào là huyết tương (chứa protein, hormone, nước,…).
Máu lưu thông liên tục trong cơ thể và đi đến khắp các mô nhờ bộ máy tĩnh mạch, động mạch lớn nhỏ trong cơ thể, thực hiện nhiều chức năng đặc biệt. Trong đó, chức năng chính của máu và tuần hoàn máu có thể kể tới như bảo vệ cơ thể, điều hòa thân nhiệt, bài tiết, cung cấp dinh dưỡng,…
Trong số đó, vai trò bảo vệ cơ thể xuất phát từ các bạch cầu, kháng thể và hệ thống đệm. Hormone có trong huyết tương tham gia vào các quá trình hóa học trong cơ thể, điều hòa hoạt động của các cơ quan. Nhiệm vụ hô hấp của máu là vận tải oxy từ phổi đến các tế bào và nhận lại CO2 từ tế bào về lại để phổi thải ra ngoài.
Độ nhớt của máu là bao nhiêu?
Độ nhớt của máu được quyết định bởi hồng cầu và thành phần protein trong huyết tương. Thành quả thông thường của độ nhớt máu là 2,3 – 4,1 centipoise ở 37 độ C. Độ nhớt tăng khi cơ thể mất nước do tiêu chảy, mất nhiều mồ hôi trong lao động hoặc cảm đột ngột,…
Trong hoàn cảnh mất nhiều nước không chỉ làm điều chỉnh độ nhớt mà còn cùng với sự giảm huyết áp và các thành phần nội môi mất cân bằng, do đó luôn phải được tiếp dung dịch sinh lý cho cơ thể
Số lượng các thành phần tế bào
Trạng thái đa hồng cầu hay tăng tiểu cầu hay tăng số lượng bạch cầu nặng đều có khả năng giúp tăng độ nhớt của máu.
Mức độ cô đặc máu
Tình trạng cô đặc máu thường đi kèm với tăng độ nhớt của máu.
Năng lực biến dạng của hồng cầu
Đường kính trung bình của mao mạch nói chung < 5 μ, trong thời gian đấy đường kính trung bình của hồng cầu là 7- 8 μ. Do đó, hồng cầu phải điều chỉnh hình dạng để thích ứng, có khả năng bước qua các mao mạch ngoại vi. Một vài bệnh lý làm biến dạng hồng cầu như: không đủ máu hồng cầu hình liềm đi kèm với giảm năng lực điều chỉnh hình dạng của các hồng cầu với tăng thứ phát độ nhớt của máu.
Năng lực kết tập của hồng cầu

Các protein ngưng tập có thể liên kết chặt chẽ các hồng cầu lại với nhau để tạo các cuộn hồng cầu là fibrinogen, các globulin, các lipoprotein tỷ trọng cực kì thấp và các phức hợp miễn dịch lưu hành. Các hồng cầu kết tập này gây giảm dòng chảy của máu và làm tăng độ nhớt của máu.
Xem thêm Những thực phẩm bổ sung sắt giúp máu lưu thông tốt hơn
Độ nhớt huyết tương
Độ nhớt của máu là gì? Tăng protein có trọng lượng phân tử cao giúp tăng độ nhớt huyết tương, vì thế làm tăng độ nhớt máu. Bên cạnh đó, các protein này gây tạo ra các cuộn hồng cầu và dễ làm xuất hiện các biến chứng huyết khối.
Yếu tố nào tác động đến độ nhớt máu?
Độ nhớt máu phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau phụ thuộc thành phần máu cũng giống như thuộc tính của các thành phần ấy. Khi một hay nhiều thành phần các tế bào trong máu tăng như tăng tiểu cầu, tăng số lượng bạch cầu nặng hay trạng thái đa hồng cầu đều có khả năng giúp tăng độ nhớt của máu.
Một số trường hợp liên quan đến khả năng biến dạng của hồng cầu cũng gián tiếp gây nên trạng thái tăng độ nhớt máu. Thường thường kích thước đường kính trung bình của hồng cầu lớn hơn đường kính trung bình của mao mạch nên khi di chuyển xuyên qua mao mạch thì hồng cầu cần điều chỉnh kích thước, hình dạng.
Ví dụ trong bệnh lý không đủ máu do hồng cầu hình liềm, các hồng cầu không thể co nhỏ để có khả năng xuyên qua mao mạch máu ngoại vi, gây tăng số lượng hồng cầu dẫn đến tăng độ nhớt máu. Một số biểu hiện của bệnh như đái tháo đường, tăng mỡ máu cholesterol, triglyceride, nhiễm toan chuyển hóa,… cũng là nguyên nhân gián tiếp gây tăng độ nhớt máu.
Xem thêm Những thực phẩm tốt cho gan giúp tăng cường khả năng lọc máu
Đo độ nhớt của máu khi nào?

Độ nhớt của máu bất thông thường đi kèm với một số bệnh lý có khả năng dẫn tới biến chứng huyết khối hoặc điều chỉnh hình dạng hồng cầu, tăng nguy cơ kết tập hồng cầu hình thành cục máu đông. Các bệnh thường gặp bao gồm: tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng lipid trong máu,…
Tuy nhiên, nếu như chỉ phụ thuộc vào độ nhớt của máu, cực kì khó chọn lựa được tác nhân bệnh lý dẫn đến, phân biệt với các trường hợp tăng độ nhớt do mất máu hoặc tác nhân tạm thời nào đó. Việc làm này gây ra nguy cơ bệnh nhân vướng phải kết quả của tai biến huyết khối.
Độ nhớt của máu là gì? Trái lại, trong chẩn đoán nhận xét các biểu hiện của bệnh huyết khối, xét nghiệm đo độ nhớt của máu thường được chỉ định. Cụ thể bao gồm: đái tháo đường, đa hồng cầu, tăng cholesterol, viêm động mạch chi dưới, tăng gammaglobulin máu,… Cần cùng với cả các xét nghiệm khác để quyết định chẩn đoán cũng giống như điều trị hợp lý.
Qua bài viết trên đây Hoidapsuckhoe.vn đã cung cấp các thông tin về độ nhớt của máu là gì? Độ nhớt của máu là bao nhiêu?. Hy vọng những thông tin trên của bài viết sẽ hữu ích với các bạn đọc. Cảm ơn các bạn đã dành nhiều thời gian để xem qua bài viết này nhé.
Lộc Đạt – tổng hợp
Tham khảo ( medlatec.vn, www.vinmec.com, … )